Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2009

Tác dụng của tỏi và rượu tỏi


Xin cho biết tác dụng chữa bệnh của tỏi và cách ngâm rượu tỏi? Phan Văn Hưng, Mỹ An, Tháp Mười, Đồng Tháp
Theo BS Vũ Định thì Y học cổ truyền ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhân dân đã dùng tỏi vào điều trị nhiều loại bệnh có kết quả tốt. Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ôn, hơi độc, tác động vào hai kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, tiêu đờm...
Người ta có thể dùng tỏi bằng nhiều cách khác nhau, nhưng đặc biệt ở Ai Cập thì hầu như nhà nào cũng dùng rượu tỏi. Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt, nhưng sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao. Thấy đây là một hiện tượng lạ, WHO đã cử nhiều chuyên gia y tế đến Ai Cập nghiên cứu. Các nhà y học đã chia nhau về nông thôn và thâm nhập vào các vùng có khí hậu khắc nghiệt để khảo sát, thu thập tài liệu có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật. Họ có nhận xét chung là nhà nào cũng có một hũ rượu ngâm tỏi để uống.
Từ nhiều thế kỷ nay, người dân Ai Cập vẫn giữ được tập quán này. Tiếp đó, qua nhiều nghiên cứu phân tích, người ta thấy rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh: xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp), hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản), tim mạch (huyết áp cao, huyết áp thấp, xơ mỡ động mạch), tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày - tá tràng). Năm 1983, các nhà nghiên cứu Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là bệnh trĩ và tiểu đường. Họ nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao, không gây phản ứng phụ.
Cách bào chế rượu tỏi: Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được.
Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.
Ở nước ta, đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi trên của WHO, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi/lần) nhưng không thấy phản ứng phụ. Những năm gần đây, các nhà khoa học ở nhiều nước đã nghiên cứu phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của tỏi. Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm. Tác dụng kháng virus cũng đã được nói đến.
Với hệ tim mạch, những nghiên cứu mới cho thấy tỏi có tác dụng làm giảm triglycerid và hàm lượng cholesterol xấu (LDL), nhưng lại tăng cholesterol tốt (HDL) do đó làm giảm các rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu. Tỏi có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa được ung thư, đó là điều nhiều nhà khoa học đã thừa nhận; song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp.
Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày - ruột, ức chế tuyến giáp... Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh, với cách dùng an toàn có thể dùng hằng ngày một cách lâu dài.

Theo Báo Nông Nghiệp Việt Nam

Rượu tỏi phòng và chữa bệnh
Picture:2.bp.blogspot.com/.../s400/garlic+chives2.JPG
Ai Cập tuy là một nước nghèo, khí hậu khắc nghiệt nhưng người dân lại khỏe mạnh và sống lâu. Tổ chức Y tế Thế giới đã điều tra và phát hiện, mỗi gia đình ở Ai Cập đều có một hũ rượu ngâm tỏi và đây có thể là lời giải thích cho hiện tượng trên. Y học cổ truyền nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã dùng tỏi vào điều trị nhiều loại bệnh có kết quả tốt. Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ôn, hơi độc, vào hai kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, tiêu đờm... Người ta có thể dùng tỏi bằng nhiều cách khác nhau, nhưng đặc biệt ở Ai Cập thì hầu như nhà nào cũng dùng rượu tỏi. Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt, nhưng sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao. Thấy đây là một hiện tượng lạ, WHO đã cử nhiều chuyên gia y tế đến Ai Cập nghiên cứu. Các nhà y học đã chia nhau về nông thôn và thâm nhập vào các vùng có khí hậu khắc nghiệt để khảo sát, thu thập tài liệu có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật. Họ có nhận xét chung là nhà nào cũng có một hũ rượu ngâm tỏi để uống. Từ nhiều thế kỷ nay, người dân Ai Cập vẫn giữ được tập quán này. Tiếp đó, qua nhiều nghiên cứu phân tích, người ta thấy rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh: xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp), hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản), tim mạch (huyết áp cao, huyết áp thấp, xơ mỡ động mạch), tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày - tá tràng). Năm 1983, các nhà nghiên cứu Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là bệnh trĩ và tiểu đường. Họ nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao, không gây phản ứng phụ. Cách bào chế rượu tỏi: Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một thìa cà phê) trước khi ăn; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được. Ở nước ta, đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi trên của WHO, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi/lần) nhưng không thấy phản ứng phụ. Những năm gần đây, các nhà khoa học ở nhiều nước đã nghiên cứu phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của tỏi. Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm. Tác dụng kháng virus cũng đã được nói đến. Với hệ tim mạch, những nghiên cứu mới cho thấy tỏi có tác dụng làm giảm triglycerid và hàm lượng cholesterol xấu (LDL), nhưng lại tăng cholesterol tốt (HDL) do đó làm giảm các rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu. Tỏi có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa được ung thư, đó là điều nhiều nhà khoa học đã thừa nhận; song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp. Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng. Dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày - ruột, ức chế tuyến giáp... Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh, với cách dùng an toàn có thể dùng hằng ngày một cách lâu dài. Source: http://vnexpress.net/Vietnam/Suc-khoe/2005/09/3B9E26F3/
Tỏi - Gia vị phòng chống ung thư
Tỏi được trồng rất phổ biến, là một gia vị không thể thiếu trong những bữa ăn và là vị thuốc có giá trị chữa bệnh cao. Người ta đặt cho tỏi những biệt hiệu: thần dược, thuốc bách bệnh…Giá trị làm thuốc của tỏiTỏi được dùng làm thuốc từ lâu đời. Dược liệu có vị cay, hôi, tính ẩm, có tác dụng sát khuẩn, giải độc, tiêu đờm, trừ giun. Thành phần chủ yếu của tỏi là một chất kháng sinh alixin C6H10OS2, một hợp chất sunfua có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh đối với Staphyllococcus, thương hàn, phó thương hàn, ly, vi khuẩn tả, trực khuẩn sinh bệnh, bạch cầu, vi khuẩn thối. Trong củ tỏi có chứa 0,1-0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S). Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alixin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alixin ngay, mà có chất alilin (một loại acid amin) – chất này chịu tác động của enzyme alinaza (cũng có trong củ tỏi) và khi giã dập mới cho alixin. Ngoài ra củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và khoáng chất… đặc biệt selen. Những năm gần đây, tỏi lại được các nhà khoa học ở nhiều nước nghiên cứu, phát hiện thêm những đặc tính kỳ diệu khác như: khả năng tăng cường hệ thống miễn dịch, nâng cao sức khoẻ, làm tăng huyết áp, có tác dụng chống tắc nghẽn mạch máu, làm chậm quá trình lão hoá tế bào, chống sự già nua, làm giảm sung huyết và tiêu viêm, phục hồi nhanh thể lực… Đặc biệt tỏi còn có khả năng phòng chống ung thư.Một số nghiên cứu về tác dụng phòng chống ung thư từ củ tỏi.Ở Trung Quốc, qua công trình nghiên cứu bệnh ung thư thanh quản ở Thượng Hải, các nhà nghiên cứu cho biết ung thư hầu như không xuất hiện ở những người dùng nhiều tỏi và cam quýt trong bữa ăn hằng ngày.Theo các nhà khoa học, ăn tỏi thường xuyên thì tỷ lệ ung thư dạ dày thấp (0,03% so với 0,4% ở những người rất ít ăn tỏi). Các bác sĩ cũng xác nhận tỷ lệ ung thư dạ dày ở những người thường xuyên ăn tỏi thấp hơn 60% so với các những người khác cùng khu vực nhưng không dùng tỏi. Những nghiên cứu ở Italy và Hà Lan cho thấy tỉ lệ ung thư dạ dày giảm ở những người thường xuyên dùng tỏi trong bữa ăn. Tiến sĩ Michael Warrgovich ở Đại học South California phát hiện ra tỏi còn hoạt động như một chất chống ung thư cả trong phòng bệnh và chữa bệnh. Những nghiên cứu của ông cho thấy mối liên quan giữa việc dùng tỏi với lượng chất nitơ giảm ở người và lượng tử vong vì ung thư dạ dày cũng ít đi. M.Warrgovich giải thích: Trong tỏi có một hợp chất gọi là diallyl disulfide có thể làm tiêu các khối u đi một nửa. Ngoài ra hợp chất S.Allyleystein cũng có thể ngăn chặn các chất gây ung thư xâm nhập tế bào tuyến vú.Các nhà nghiên cứu cho rằng mọi khối ung thư đều trải qua ba giai đoạn phát triển và ở giai đoạn nào chúng cũng bị tỏi chống phá. Các chất chống ôxy hoá trong tỏi có khả năng tấn công khối u trước khi nó có thể nhen nhóm. Ở giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát bệnh, tỏi sẽ có tác dụng ngăn không cho các tế bào ung thư phát triển, tiêu diệt sự phát triển của những mạch máu mới nuôi dưỡng khối u.Các nhà khoa học Pháp thuộc Trung tâm nghiên cứ Nông học quốc gia (INRA) còn đưa ra ý kiến: Trong thành phần của tỏi chứa một số hợp chất có khả năng ức chế hoạt động của các chất gây ung thư. Tuy nhiên, chúng không tác dụng trực tiếp mà kích thích các enzym của cơ thể có khả năng ngăn chặn quá trình tạo thành các chất gây ung thư.Một số tác dụng khác của tỏi
Mỗi ngày ăn hai nhánh tỏi sẽ có công hiệu ngang với uống thuốc làm giảm cholesterolGiảm cholesterol để phòng bệnh tim mạch: Nhiều nghiên cứu thấy rằng dùng nước chiết từ tỏi để lâu ngày làm giảm 30% lượng cholesterol nên giúp phòng ngừa xơ cứng động mạch.Theo báo “Ăn uống và dinh dưỡng” của Trường đại học Taffsi (Mỹ), mỗi ngày ăn hai nhánh tỏi sẽ có công hiệu ngang với uống thuốc làm giảm cholesterol. Còn các nhân viên nghiên cứu thuộc trường Đại học Pennylvania đã phát hiện tác dụng làm giảm cholesterol và làm hạ thấp khả năng bám của mỡ trong máu.Tỏi đề phòng tắc nghẽn mạch máuTrong nghiên cứu, người ta đã thấy nước tỏi có tác dụng phòng tắc nghẽn mạch máu nhờ khả năng phân giải và hoà tan một loại protein dễ gây tắc. Nhiều chứng minh qua nghiên cứu đã thấy thuốc hỗn hợp có tỏi có tác dụng như aspirin. Vì vậy, các chuyên gia y tế đã khuyên người bệnh tăng mỡ máu cần ăn từ 3 – 4 nhánh tỏi mỗi ngày.Tỏi làm giảm viêm đau khớpQua theo dõi những bệnh nhân viêm khớp được điều trị bằng viên nang điều chế từ tỏi đều cho kết quả tốt, nhờ hoạt tính ở tỏi làm hạn chế việc sinh ra các phần tử tự do gây tổn thương đến tổ chức khớp.Tỏi còn tác dụng dưỡng nhan ích thọ, làm chậm sự lão hoáCác nghiên cứu của bác sĩ Robertllin đã thừa nhận rằng tỏi có tác dụng dưỡng nhanh ích thọ, làm chậm sự lão hoá. Đó là khả năng bảo vệ hồng cầu không bị ôxy hoá và khống chế phần tử tự do sinh ra trong quá trình ôxy hoá để các phần tử này không tác động đến quá trình lão hoá.Ăn tỏi thường xuyên còn giúp khả năng hồi phục sức khoẻ và chống sự già nuaMột số cách sử dụng trong dân gian:- Tỏi (100g) thái nhỏ, sắc với 300 ml nước, lấy 1/3 uống chữa tiêu chảy.- Tỏi (6 – 7 củ) nửa để sống, nửa nướng chín, ăn cho hết chữa sốt rét do khí độc rừng núi.- Tỏi giã nát trộn với dầu vừng bôi chữa đau sưng, mụn lở.Nước tỏi 5% dùng nhỏ mũi để phòng chống cúm: thụt hậu môn hằng ngày vừa trị giun kim, vừa chữa kiết lỵ, viêm đại tràng.Một số tài liệu khuyên mọi người nên sử dụng tỏi trong bữa ăn hàng ngày với mức độ vừa phải nhằm phòng bệnh là chính, tăng cường hệ thống miễn dịch tự nhiên có lợi cho sức khoẻ. Hoặc cũng có thể pha rượu tỏi theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới như sau: dùng 40g tỏi khô (đã bóc vỏ) thái nhỏ, ngâm với 100 ml rượu trắng 45 độ, để sau 10 ngày thì dùng, mỗi ngày uống 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) ngâm liền tiếp từng mẻ nhỏ như vậy để sử dụng thường xuyên.
TỎI - GIAN NAN ĐI TÌM NGUỒN CÁT
Để có 4-500 tấn tỏi mỗi năm, đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) phải mất 70.000 mét khối cát dùng làm "nền" khi gieo trồng. Tình trạng khai thác cát để trồng tỏi khiến cho Lý Sơn hàng năm phải mất từ 5-7 ha do nạn xâm thực của thuỷ triều. Đề tài nghiên cứu khoa học "Giải pháp kỹ thuật canh tác hành, tỏi trong điều kiện thổ nhưỡng ở Lý Sơn" của Sở Khoa học& Công nghệ Quảng Ngãi liệu có mở ra lối thoát cho hòn đảo này?
Khi cây tỏi được "bón" bằng... cát
Trong số gần hai vạn dân trên đảo Lý Sơn thì có đến 2/3 là sống bằng nghề trồng tỏi. Tỏi được xem là cây chủ lực, nguồn thu nhập chính của nông dân. Điều làm nên sự khác biệt của tỏi Lý Sơn là củ của nó không quá to, không quá cay, lại có mùi thơm đặc biệt. Mùi thơm nồng ấy là do người dân đã dùng cát biển để "lót" khi gieo trồng. Có lẽ các thành phần hóa học trong cát biển đã làm cho tỏi Lý Sơn có mùi vị riêng chăng? Trước khi trồng tỏi, họ phải đến các bãi cát (hiện nay phải đi mua cát) để lấy mang về "lót" một lớp mỏng làm nền. Xong một, hai vụ, lớp cát này hết chất dinh dưỡng, họ lại cào bỏ đi và rải một lớp cát khác. Ơ phía bắc và phía đông xã An Hải, tình trạng khai thác cát để trồng tỏi liên tục như thế đã biến vùng đất này thành những hầm hố sâu hoắm, làm "mồi ngon" cho triều cường. Biển cứ lấn dần theo vết chân của những người khai thác cát. Thống kê mới đây cho biết, Lý Sơn đã mất 43ha đất do nạn xâm thực của triều cường mà việc khai thác cát là thủ phạm chính. Quỹ đất vốn đã ít ỏi, giờ bị biển lấy đi khá nhiều, buộc các nhà quản lý phải tìm cách.
Và không "bón" cát
Nguồn cát gần như cạn kiệt nên thay thế cát bằng một chất liệu khác là điều luôn canh cánh bên lòng những người trồng tỏi. Sau nhiều lần khảo sát và nghiên cứu, năm 2000, Sở Khoa học & Công nghệ Quảng Ngãi triển khai đề tài: "Giải pháp kỹ thuật canh tác hành, tỏi trong điều kiện thổ nhưỡng ở Lý Sơn". Theo đó, thay vì dùng đất và cát để làm "nền" khi trồng, người nông dân phải bón nhiều phân hữu cơ nhằm tăng độ xốp, nâng cao tỷ lệ hạt kết bền trong nước; đưa độ pH đất xuống mức thích hợp cho tỏi bằng cách sử dụng các loại phân chua sinh lý; đưa nhiều gốc sunphat vào đất; bón nhiều kali, lân để tăng nhanh quá trình hình thành củ tỏi. Cạnh đó, người trồng tỏi còn phải dùng một lớp thực vật phủ trên nền đất với độ dày 1,5cm nhằm hạn chế cỏ dại và giữ độ ẩm cho đất. Ba năm qua, những người thực hiện đề tài này luôn phải điều chỉnh các thành phần sinh-hóa học nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Qua các năm cho thấy, việc trồng tỏi không dùng cát theo truyền thống đã mang lại kết quả bước đầu. Riêng vụ tỏi năm nay, năng suất đạt 90 tạ/ha (trồng theo lối truyền thống chỉ đạt 60 tạ/ha). Tuy nhiên, tất cả những số liệu trên vẫn chưa làm cho người trồng tỏi yên tâm với phương thức canh tác mới này. Thứ nhất, đây chỉ dừng lại ở "mô hình", trên diện tích vài trăm mét vuông. Năm nay năng suất tỏi đạt rất cao trong tình hình chung của đảo chứ chưa phải hoàn toàn do "đề tài" mang lại, mà đây lại là năm cuối cùng của đề tài này nên cũng khó mà triển khai thêm một vụ nữa! Cản ngại lớn nhất là, để thay lớp cát cần phải sử dụng một lượng phân chuồng và rác rất lớn. Mà phân chuồng và rác trên đảo thì quý như...vàng, vì người dân không có điều kiện chăn nuôi như trong đất liền nên không có phân chuồng; cả hòn đảo không một bóng cây, lấy đâu ra rác? Nếu mang phân chuồng và rác ra đảo thì giá thành sẽ đội lên. Đây là năm được mùa tỏi lớn nhất trong vòng 10 năm qua ở Lý Sơn, song giá tỏi lại đang chập chờn, có nguy cơ tụt xuống còn 5.000đ/kg như những năm trước nên việc "hạ giá thành" cho đầu vào cây tỏi là điều mà đề tài trên cần phải hướng đến. Thay cát bằng chất liệu khác là điều nên làm nhưng hiệu quả vẫn là điều mà người nông dân Lý Sơn đang mong, dù họ biết rằng cứ tiếp tục dùng cát để "lót" như lâu nay thì chỉ cần 15 năm nữa là hết cát, cây tỏi cũng khai tử luôn trên hòn đảo này.
Trần Đăng
Củ tỏi - Gia vị hạ cholesterol
Hàng nghìn năm nay, tỏi được xem là một thứ gia vị không thể thiếu được trong bữa ăn của nhiều dân tộc trên thế giới. Ngày nay, vai trò của nó trong cuộc sống đối với con người sẽ được nâng cao gấp nhiều lần. Bởi vì tỏi là dược liệu quý giá có khả năng hạ thấp nồng độ cholesterol trong máu xuống và vì thế nó là “vệ sĩ” vô giá để bảo vệ hệ thống tim mạch. Tập hợp 13 công trình nghiên cứu về tác dụng y - dược của tỏi từ những năm 60 tới nay, các nhà khoa học của Anh thuộc Trường ĐHTH Exeter đã cho biết: Tỏi chứa một hợp chất sinh học - allicine - có khả năng tuyệt vời để bảo vệ tim mạch, do nó có thể “hoá giải” được một hàm lượng lớn cholesterol “dư thừa” trong cơ thể người và vì thế không làm cho huyết áp gia tăng. Qua phân tích cho thấy nhiều thành phần hữu cơ chứa trong củ tỏi hoạt động như là những chất hoạt huyết - chống đông đặc máu và tăng khả năng linh động của các tế bào hồng, bạch... cầu. Một số nghiên cứu cho rằng tỏi có thể giảm lượng cholesterol trong máu xuống 12%. Trong khi đó, một số công bố khác cho rằng tỏi chỉ có khả năng tối đa hạ cholesterol xuống dưới 9%. Tuy vậy, bất luận các chỉ số trên nằm ở ngưỡng nào thì tỏi vẫn là cây thuốc vô cùng quý giá. Bởi nếu chỉ hạ nồng độ cholesterol xuống 5% thì đã loại trừ khả năng mang bệnh tim trên 20%. Ngoài chức năng làm chất xúc tác - hoạt huyết - tỏi còn là một kháng sinh tự nhiên mà cả khoa học cổ truyền lẫn hiện đại không thể phủ nhận. Lượng tỏi lưu thông trên thị trường quốc tế vào những năm 90 dao động ở kim ngạch từ 174 tới 223 triệu USD. Hiện tại, một số hãng dược phẩm đang có dự án bào chế tỏi thành viên thuốc nén với mục đích chữa bệnh hạ cholesterol mà không gây ra các hiệu ứng có hại như thuốc chuyên dụng Statin. Tuy vậy, loại tân dược dạng con nhộng này sẽ không mang mùi vị của thiên nhiên và nó làm giảm khả năng chữa bệnh “đa dạng” của tỏi. Cho nên các nhà y - dinh dưỡng khuyên rằng nên sử dụng tỏi như là thức ăn - thuốc uống trong các bữa ăn thường nhật là tốt nhất.
Theo Báo Lao Động

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2009

Do you Know the Health Benefits of Garlic?



















General Description
Garlic belongs to the same family as the onion. Both these herbs have been given special importance in Ayurveda due to their immense curative properties. The first recorded incidence of garlic as a medicinal herb dates as back as 4500 B.C. when the pyramid builders in Egypt were made to eat garlic cloves everyday for building their health. It has also been recommended by Hippocrates, who is regarded as the Father of Medicine.
Garlic is a biennial herb, but it is generally cultivated as an annual herb for convenience. Morphologically, it is a short herb with fibrous roots, a condensed stem and flattened leaves. The separate cloves of the garlic are enclosed together to form a single bulb. There could be anywhere between six and thirty-five cloves in one bulb of garlic.
It is called as lahsuna in the Indian language and its binomial name is Allium sativum. It contains all the vitamins necessary in the human diet, such as thiamin, riboflavin, niacin (B complex vitamins) and ascorbic acid (vitamin C). Garlic contains minerals such as calcium, phosphorus and iron. It also contains iodine, sulfur and chlorine in trace amounts. Besides all these, garlic contains allicin, allisatin I and allisatin II, all of which have been identified to be agents helpful in bringing down high blood pressure.
Properties
Garlic is known for the following curative properties:-
(i) Garlic contains antiseptic properties. Hence it is used in preventing infections.
(ii) Garlic is hypotensive, i.e. it has capacity to bring down blood pressure.
(iii) Garlic is a stimulant for appetite.
(iv) Due to its rich vitamin and mineral content, garlic is very good for the hair.
(v) Garlic increases the inner body strength and vitality.
(vi) Garlic can reduce cholesterol accumulated in the arteries. That explains its widespread use in the treatment of heart problems.
(vii) The strong juices of the garlic dissolve the mucus content in the respiratory tract.
(viii) Garlic increases perspiration, which helps in the removal of the toxins from the sweat pores.
(ix) Garlic is anti-inflammatory and antispasmodic in nature.
(x) Garlic has notable aphrodisiacal properties. It is used in the treatment of many sexual problems.
Uses
Garlic is almost worshipped in Ayurvedic medicine since it is a single treatment for a wide variety of diseases. The following are the diseases in which garlic proves to be very beneficial.
(i) Acne
Garlic is used in the treatment of acne. If the pimples are rubbed with a cut clove of garlic several times a day, then they will disappear without leaving a scar behind. Garlic must also be included in the diet since it is a blood-purifier and can treat acne from within.
(ii) Asthma
Garlic is a sure remedy for asthma patients. Each night before retiring to bed, asthmatic patients must drink a glassful of milk in which three cloves of garlic have been boiled. Another remedy is very popular in making asthmatic attacks less severe. It is as follows: Peel a clove of garlic, crush it and boil it in 120 milliliters of pure malt vinegar. Cool it, then strain it and add an equal quantity of honey in it. Preserve this syrup in a clean bottle. Take one or two teaspoons of this syrup with a decoction of fenugreek twice each day, after darkness sets in.
(iii) Digestive Problems
Garlic is unanimously considered by all Ayurvedic doctors to be the best herb in the treatment of digestive problems. Daily consumption of garlic in the food helps in the proper movement of the intestines, which helps in digestion. Due to its antiseptic properties, garlic is also good remedy for preventing the inflammations of the gastric canal. Garlic aids in the treatment of colitis, dysentery and diarrhea.
(iv) Heart Problems
Garlic has only recently been proven in the west to be a suitable remedy for heart ailments. It can disintegrate the cholesterol that collects in the arteries, and hence treat the problem of atherosclerosis. It is clinically proven that the chances of a heart attack are significantly lowered if a person who has suffered a minor heart attack begins taking three cloves of garlic on a daily basis.
(v) High Blood Pressure
Due to the rich chemicals present in it, garlic is taken as an effective treatment for high blood pressure. Garlic reduces the spasms of the arteries and reduces the pressure. In addition, it also modifies the heart rhythm and dizziness, shortness of breath and flatulence.
(vi) Parasites
Garlic is an excellent worm expeller. It is also used in treating bacterial infections in the alimentary canal. The best thing about using garlic as a remedy for bacterial parasites is that it kills the harmful bacteria without harming the useful ones.
(vii) Pneumonia
A decoction of garlic is boiled in milk. This is prepared by mixing one gram of garlic in 250 milliliters of milk and one liter of water. All this is boiled till it reduces to one-fourth of the amount. This is to be taken thrice a day. This is a wonderful remedy for pneumonia.
(viii) Ringworm
Garlic is rubbed over ringworm. This burns out the infection and the skin falls off, leaving healed skin behind.
(ix) Rheumatism
Garlic is used in rheumatism treatment due to its anti-inflammatory properties. In addition to rheumatism, garlic is also used for the treatment of lumbago and arthritis.
(x) Sexual Problems
Garlic has aphrodisiac properties. It is used to enhance libido in men and women. It is used as a sex rejuvenator, i.e. it can improve sexual activity that has been damaged due to accident or disease. It is important for people who overindulge in sex to protect them from nervous exhaustion.
(xi) Tuberculosis
Garlic is used for tuberculosis in the form of a decoction boiled in milk.
(xii) Whooping Cough
In cases of whooping cough, syrup of garlic is given in doses of five drops sweetened with some sugar. This is given thrice a day, and the dosage must be increased if the problem becomes more violent.
(xiii) Wounds
Due to its antiseptic properties, garlic can be effectively used in the treatment of wounds and ulcers. A good antiseptic lotion can be prepared for washing wounds by dissolving one part of garlic juice in three parts of distilled water. When the wound is washed with this lotion, there is marked improvement in a very short time. This also relieves the pain that is associated with wounds due to damage to the nerves.
Special Ayurvedic Preparations
Mostly garlic is eaten raw, and is prescribed to be an integral part of the diet.
Precautions
Garlic is a component of the main Indian diet, and there are no problems associated with its intake. Up to six cloves of garlic can be taken per day without any side-effects. The only problem with garlic is that it gives a bad taste in the mouth and pungent breath due to its sulfur content.



Tỏi- Phòng bệnh hơn chữa bệnh
(Dân trí) - Mới đây các nhà nghiên cứu cho biết tỏi và kali giúp những người bị huyết áp cao điều trị bệnh hiệu quả.Bạn bị huyết áp cao? Đừng vội nghĩ tới việc dùng thuốc tân dược ngay, hãy chú ý tới thức ăn hàng ngày của bạn. Hai nghiên cứu mới đây của Úc và Mỹ cho biết tỏi và kali cũng hữu hiệu như các loại thuốc tân dược khác trong việc làm giảm áp lức mạch máu.Để có được kết quả trên, nhóm nghiên cứu người Úc đã tiến hành nghiên cứu trong vòng 11 năm tác dụng của tỏi đối với. Họ tiến hành so sánh hiệu quả của tỏi và những thực phẩm khác đối với những người bị huyết áp cao. Nhóm ăn tỏi được đề nghị ăn từ 600 - 900mg tỏi mỗi ngày tương ứng với 3,6 - 5,4mg chất allixin có trong tỏi. Nói cách khác 1 giọt nước tỏi chứa từ 5 - 9mg chất này.Kết quả cho thấy hệ mạch của những người ăn tỏi đã giảm được áp lực máu. Tác dụng của tỏi được ghi nhận không kém gì những loại thuốc tân dược đang được dùng điều trị căn bệnh này.Nhóm nghiên cứu người Mỹ đã tiến hành nghiên cứu tác dụng của kali với căn bệnh này. Họ khẳng định chất khoáng này không thể thiếu đối với sức khoẻ tim mạch. Sau khi tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm về tác dụng của chất này với bệnh cao huyết áp, họ đi đến kết luận tăng cường ăn những chất chứa kali hàng ngày sẽ giúp bệnh nhân huyết áp cao giảm tới 10% áp lực đối với mạch máu. Tác giả nghiên cứu cũng nhấn mạnh chất này có rất nhiều trong hoa quả và rau xanh. Ngoài ra bệnh nhân huyết áp cao cũng cần giảm lượng muối trong bữa ăn.
Dung Nhi
Theo Santé